Đôi
lời giới thiệu :
Ông bạn thân, Bác Sĩ Nguyễn Tiến Cảnh ở Florida, một nhân
vật thuộc giới khoa học, nhà văn, nhà báo lâu năm, có gửi
cho chúng tôi bài viết này. Đọc xong, chúng tôi nhận thấy
: Phù hợp với nguyện vọng cuả đa số dân chúng cư ngụ
tại Tiểu Bang California, trong đó có chúng tôi, là Tiểu Bang
đông dân cư và nhiều Cử Tri Đoàn ( electoral votes ) nhất
Liên Bang Hoa Kỳ, cho nên trong cuộc bầu cử vưà qua, ngày
4 - 11 –2008, dự thảo luật số 8, ngăn cản vấn đề hôn
nhân đồng tính đã thắng. Đa số dân chúng California thở
phào, nhẹ nhõm, cảm thấy hôn nhân truyền thống đã được
bảo vệ, sách vở xưa nay cũng như hàng bao nhiêu triệu cuốn
Tự Điển ( dictionaries ) các loại , có định nghiã về hôn
nhân ( definitions of marriage ) không bị...quăng vào những đống
rác. Con cái cuả chúng ta sẽ còn được sống với cảnh hôn
nhân 1 nam, 1 nữ, sinh đẻ con cái, gia đình hạnh phúc yêu
thương ( dầu không dám nói 1 cách tuyệt đối, tất cả đều
được như vậy ). Thêm nưã, nhận thấy bài viết có giá
trị về nghiên cứu, đạo đức vì không lẽ khoa học, kỹ
thuật tiến bộ bao nhiêu thì truyền thống đạo đức quốc
gia cũng như nhân loại cứ bắt buộc phải suy đồi bấy nhiêu
hay sao ? Hoặc chẳng lẽ đời sống được coi là văn minh
bao nhiêu thì con người cứ bắt buộc phải điên khùng vì
kiểu tự do “ hổ lốn, chết bỏ “ bấy nhiêu hay sao ? Xã
hội hiện nay đã có nhiều khó khăn, rắc rối, phiền toái,
đảo điên, bạo lực quá rồi, chúng ta, mọi người từ các
nhân vật lãnh đạo, có quyền lực, các vị dân cử đến
mọi người dân phải cùng nhau lập lại trật tự, truyền
thống cao đẹp cuả đất nước này, vốn được coi là văn
minh, hùng cường, là... Superpower, chớ không thể nhắm mắt,
buông tay, cầu an, ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến bản thân
mình mà thôi, còn bất cần kẻ khác, sống chết mặc bay ,
xã hội muốn tới đâu thì tới...
Phan
Đức Minh
-
Former
national judge of the Republic of Viet Nam.
-
Member
of the International Society of Poets 1997.
-
Outstanding
Figure in Literature 2004 of Asian Community & ASIA Journal in San
Diego.
-
Winner
of 15 literary prizes, 5 of which are American & International ones.
*
* *
Tổ phụ loài người, hai người đầu tiên được Thiên Chúa
dựng nên là ông Adam và bà Eva, tức là một người Nam và
một người Nữ với mục đích để hai người ăn ở với
nhau và sinh con đẻ cái hầu thờ phượng, làm sáng danh Chúa
(St1-27,28. Mt.19-4). Chúa đã không chỉ tạo nên hoặc hai người
Nam hay hai người Nữ để họ chung sống với nhau. Sau này
khi Chúa Giêsu giáng trần, nói về phép hôn phối, Chúa cũng
đã nói hai người nam và nữ kết hợp với nhau nên cùng một
thân xác, yêu thương gắn bó với nhau để sinh con cái thờ
phượng Thiên Chúa. (Mt.19-5,6). Chúa đã quở trách những người
ngoại tình (Mt.5-27,28). Trong cựu ước ta thấy Chúa đã phạt
cả dân thành Sodom vì họ không vâng lời Chúa thờ ngẫu tượng
và phạm tội sodoma (St.18-19).
Vậy thì theo luật Chúa và luật tự nhiên, để thành vợ
chồng phải là một người Nam và một người Nữ, không thể
là hai người Nam hoặc hai người nữ với nhau.
Qua nhiều triều đại từ thuở tạo thiên lập địa, tất
cả những gì trái với luật tự nhiên là trái đạo và kỳ
quái bất thường không được xã hội chấp nhận. Nó trái
cả với sinh lý bình thường tự nhiên của con người.
Nhưng ngày nay con người càng văn minh tiến bộ thì người
ta lại càng làm nhiều điều trái lẽ tự nhiên lấy cớ tự
do, buông chiều theo dục tính hay tâm tư mình, cho rằng Chúa
dựng nên như vậy. Vấn đề hôn nhân đồng tính giữa nam
với nam hoặc nữ với nữ đã nảy sinh và phát triển mỗi
ngày mỗi rộng, đặc biệt ở Âu Châu và Châu Mỹ / Hoa Kỳ.
Tại Hoa Kỳ, hôn nhân đồng tính đã trở thành trọng tâm
của mọi cuộc tranh luận. Mới đây ngày 10-10 2008 Tối Cao
Pháp Viện Connecticut đã đồng ý cho những cặp đồng tính
được chính thức lấy nhau thành vợ chồng, đưa Connecticut
lên hàng thứ ba sau Massachusetts và California .
Chúng ta thử tìm hiểu xem phản ứng của Giáo Hội Công Giáo
thế nào đối với quyết định đó. Tòa Thánh thì dĩ nhiên
đã lên tiếng tỏ thái độ bất đồng từ lâu. Tại Connecticut
, Hội Đồng Giám Mục Connecticut (HĐGM) đã lên tiếng phản
đối và trong một tuyên cáo cùng ngày 10-10-2008 đã đưa ra
lời bình luận: “Tối Cao Pháp Viện đã quên rằng bổn
phận của Tòa Án là cắt nghĩa luật và cơ quan lập pháp
mới có quyền làm ra luật”.[1]
Nhưng ở đây Tòa Án lại làm ra luật. Phải chăng có cái
gì bất ổn, không được chỉnh và trái nguyên tắc. Các ngài
cho rằng quyết định đó của TCPV chứng tỏ đã coi thường
nguyên tắc Tự Do Tôn Giáo nếu không muốn nói là đã vi phạm
Tự Do Tôn Giáo. Những ưu tư đó chính là đầu đề của
một cuốn sách mới xuất bản nói về hôn nhân đồng tính:
“HÔN
NHÂN ĐỒNG TÍNH VÀ TỰ DO TÔN GIÁO: Những xung đột”. [2]
Đây là một cuốn sách gồm một số bài viết của những
học giả chuyên viên về luật đã được trình bày trong một
hội nghị dưới sự bảo trợ của quỹ Tự Do Tôn Giáo Becket
mà Douglas Laycock, Anthony R. Picarello Jr. và Robin Fretwell Wilson
đã thu nhặt lại rồi in thành sách. Hai cộng tác viên Rowman
và Litlefield đã đưa ra vấn đề để thảo luận là khi mà
quyền hôn nhân đồng tính được chính thức công nhận thì
sẽ có những xung đột nào xẩy ra.
Marc D. Stern, phụ tá giám đốc hội nghị những người Mỹ
gốc Do Thái đã nêu vấn đề là: Các cơ quan, tổ chức tôn
giáo có bổn phận “rao truyền niềm tin của
họ” cho cả những tín hữu của họ lẫn những người
ngoài tôn giáo họ. Như vậy thì quyền tự do phát biểu, tự
do ngôn luận chống lại hôn nhân đồng tính có tiếp tục
được nhà nước lắng nghe hay không? Điều thắc mắc đòi
hỏi đó xem ra có vẻ không vừa lòng phía nhà nước. Ông
đã nêu trường hợp ở Canada, những than phiền phản đối
được đưa lên Ủy Ban Nhân Quyền cấp Tỉnh và Liên Bang
đã đưa đến hậu quả là nhà nước đã ra luật chống lại
những mục sư và những ai đã công khai phê phán chỉ trích
đồng tính luyến ái. Tuy nhiên ông lại cho biết là quyền
tự do ngôn luận và tự do tư tưởng ở Hoa Kỳ được tôn
trọng hơn ở Âu Châu và những quốc gia khác thì luật về
sách nhiễu phái tính rất dễ dàng đưa tới tình trạng chống
đối hôn nhân đồng tính.
NHỮNG
CƠ QUAN CÔNG GIÁO
Stern cũng nêu vấn đề nhân viên của các cơ sở hoặc cơ
quan Công Giáo. Mới đây tòa ra lệnh cho các cơ quan Công Giáo
phải cung cấp bảo hiểm sức khỏe có ngừa thai cho nhân viên.
Như vậy các nhà xứ, nhà thờ sẽ gặp trở ngại lôi thôi
khi nhân viên của họ là những cặp vợ chồng đồng tính.
Stern cũng báo động là các cơ quan tư vấn hôn nhân, các
phòng tâm lý và những cơ sở tương tự của một số nhà
xứ, nhà thờ, cơ quan tôn giáo rất có thể sẽ gặp khó khăn
khi xin chính quyền giấy phép hoạt động nếu mà họ có khuynh
hướng chống đối hôn nhân đồng tính. Ngoài ra một số
cơ quan của nhà thờ nhận tài trợ của nhà nước cũng sẽ
gặp khó khăn. Stern kết luận bài viết của ông là chắc
chắn những ai chống đối hôn nhân đồng tính sẽ bị ảnh
hưởng một khi hôn nhân đồng tính được công nhận và hợp
pháp hóa, và dựa vào luật hiện hành thì những ai bất đồng
ý kiến hoặc chống đối hôn nhân đồng tính chắc chắn
sẽ khó có thể thoát khỏi hậu quả của pháp luật.
Jonathan Turley, giáo sư đại học George Washington đã lý luận
rằng nguyên tắc luật lệ của Tối Cao Pháp Viện về vấn
đề kỳ thị dựa trên tôn giáo có “những cái mâu thuẫn
chõi ngược làm người ta phân vân không biết khi nào nó đúng
khi nào sai”. Chẳng hạn Tòa cho phép chính quyền phạt
những tổ chức tôn giáo bằng cách từ chối không cho họ
được miễn thuế với tư cách là hội vô vị lợi, trong
khi đó lại tuyên bố mọi người đều có quyền tự do tư
tưởng, tự do phát biểu và tự do lập hội. Ông cho rằng
hôn nhân đồng tính lại một lần nữa tạo ra những xung
đột trầm trọng giữa việc thi hành luật tu chính số Một
[3]
và luật cấm không đựoc kỳ thị và phạt những ai phạm
luật kỳ thị.
NHỮNG
MÂU THUẪN
Turley đã chứng minh cái mâu thuẫn chõi ngược đó là một
đàng thì nói là các tổ chức tôn giáo có quyền phản đối
đồng tính luyến ái trong các giáo huấn của mình, một đàng
lại buộc họ phải nhận những người đồng tính luyến
ái vào làm việc trong những cơ sở tổ chức của họ.
Ngoài chuyện từ chối không cho họ được quyền miễn thuế,
Tòa Án còn có thể phạt những tổ chức, cơ quan nào có tính
kỳ thị. Tối Cao Pháp Viện California đã đồng ý từ chối
không cấp loại giường đặc biệt của hải quân ở Berkeley
cho hội Hướng Đạo Nam vì tổ chức này chống đối đồng
tính luyến ái.
Charles J.Reid, Jr., giáo sư luật Đại Học Thánh Thomas đã so
sánh sự tương quan giữa Tôn Giáo, Luật Pháp và Nhà Nước.
Luật pháp chứng tỏ giá trị của nó qua cung cách xử phạt
cũng như cách thức cấm đoán. Kitô giáo đã giữ một vai
trò chính yếu trong việc định đoạt luật lệ về hôn nhân,
không phải chỉ ở Âu Châu từ thời Trung Cổ mà còn ở ngay
Hoa Kỳ này. Từ thế kỷ XII cho đến cách đây mấy thập
niên về trước, điều đó đã được đương nhiên công
nhận như là luật về hôn nhân của con người đã được
Thiên Chúa hướng dẫn. Trong nhiều thế kỷ, hôn nhân đã
giữ một vai trò tối quan trọng trong trật tự xã hội và
được coi là nền tảng căn bản của xã hội loài người.
Hôn nhân đã được coi như không phải chỉ là yếu tố tạo
thành quốc gia, mà còn là một tổ chức định đoạt tương
lai của quốc gia.
Theo Reid, hôn nhân ngày nay đang bị tục hóa, làm mất đi tính
cách thanh sạch thánh đức của nó để rồi đi đến chỗ
ly dị ngày càng gia tăng và những đứa con ngoại hôn ngày
càng nhiều.
NHỮNG
BÀI HỌC
Một hệ quả khác nữa là cách cắt nghĩa luật trong những
quyết định của TCPV Massachusetts khi luật hôn nhân đồng
tính được hợp thức hóa. Nói về tương quan giữa hôn nhân
và nhà nước, Tòa phán rằng: “Nói một cách đơn giản là
nhà nước tạo nên hôn nhân dân sự”.
Vậy thì làm sao mà xã hội có thể tạo ra luật lệ để
điều khiển hôn nhân và những thề hứa của họ được.
Làm sao một đứa trẻ nít miệng còn hoi sữa lại có thể
giảng giải về những giá trị của đời sống ở những
khía cạnh thực tế sống động khác nhau. Reid đã kết luận
là cuộc tranh luận hiện nay về hôn nhân là một cuộc tranh
đấu một phần nào cho những bài học chính đáng đã được
luật pháp chỉ bảo.
Trong phần kết thúc của cuốn sách, Douglas Laycok, giáo sư
luật Đại Học Michigan đã đưa ra nhận xét:
-
Các tác
giả đã có những cái nhìn khác nhau về hôn nhân đồng tính
và tôn giáo, nhưng tất cả đều đồng ý rằng hôn nhân đồng
tính là một đe dọa cho tự do tôn giáo.
Ngoài ra Laycok còn thêm:
-
Những
người đồng ý ủng hộ hôn nhân đồng tính đòi hỏi không
phải chỉ được luật pháp công nhận, các tổ chức tư nhân
dễ dãi mà còn đòi hỏi cả hai phía nhà nước và tổ chức
tư nhân công nhận và tích cực yểm trợ. Một số người
còn đang tìm cách loại bỏ những ý kiến chống đối và
phủ nhận hôn nhân đồng tính.
Laycok nhận xét:
-
Kinh nghiệm
về những xung đột văn hóa ở quá khứ cho thấy là một
khi có điều gì mới mẻ và quan trọng được công nhận và
bảo đảm thì đồng thời tiếp theo đó lại có những đòi
hỏi khác được đưa ra….
Vì
vậy ông đề nghị là cứ để cho tôn giáo định đoạt về
hôn nhân, nhà nước chỉ nên làm công việc mình là phần
dân sự mà thôi. Tuy nhiên –ông cho biết- cho dù có chấp
nhận giải pháp đó đi nữa thì vấn đề vẫn không thể
giải quyết được tất cả những khúc mắc phức tạp của
nó.
PHƯƠNG
PHÁP GIẢI QUYẾT
Trong khi Giáo Hội Công giáo Hoa Kỳ nhất định không nhân
nhượng những quan niệm của mình về hôn nhân thì ngày 15
tháng 10 vừa qua Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ đưa ra báo chí
một tuyên cáo là đã phối hợp với Hội Hiệp Sĩ Columbus
“thànhlập
một kế hoạch hành động trên toàn nước để bảo vệ hôn
nhân”.
Một
phần của sáng kiến đó là Đức Hồng Y Francis George, chủ
tich HĐGM đã cho thành lập một Ủy Ban đặc trách hôn nhân
và chỉ định Đức TGM Joseph Kurtz của Louisville thuộc tiểu
bang Kentucky làm chủ tịch.
Đức TGM Kurtz đã tuyên bố khi ra mắt Ủy Ban:
-“Chúng
ta phải hết sức cố gắng làm sao cho mọi người hiểu biết
được vẻ đẹp độc nhất của ơn gọi hôn nhân” [4]
Một trong những hành động đầu tiên của các Giám Mục là
phát động bản tuyên cáo 2003 của các Giám Mục Hoa Kỳ, xác
định rằng hôn nhân là sợi dây liên kết tương giao duy nhất
giữa một người nam và một người nữ, và như vậy nó là
một yếu tố nòng cốt và chính yếu của những xã hội lành
mạnh. Quan niệm như vậy về hôn nhân có được thực hiện
hay không thì còn cần phải quan sát.
Fleming
Island , Florida- Nov.10, 2008
Nguyễn
Tiến Cảnh
[1]
It appears our State Supreme Court has forgotten that courts should intrepet
laws and legislatures should make laws.
[2]
Same-Sex Marriage and Religious Liberty: Emerging Conflicts
[3]
Luật Tu Chính số Một: bảo vệ 5 quyền lợi của người
dân là: Tự do Tôn Giáo (Religion). Tự do ngôn luận (Speech).
Tự do Báo chí (Press) . Tự do Hội họp (Assembly). Tự do Khiếu
kiện (Petition).
[4]
We must increase our effort to make known the unique beauty of the vocation
to marriage.